Nhật ký trong tù

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Xuân
Ngày gửi: 17h:16' 16-12-2025
Dung lượng: 594.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Xuân
Ngày gửi: 17h:16' 16-12-2025
Dung lượng: 594.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NHẬT KÝ
TRONG TÙ
Nguồn: Hồ Chí Minh – Viết bằng chữ Hán năm 1942 – 1943
Bản dịch của Viện Văn học In trong sách Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù
1
http://www.bqllang.gov.vn/chu-tich-ho-chi-minh/tac-pham/1194-nh-t-ky-trong-tuh-chi-minh-vi-t-b-ng-ch-han-nam-1942-1943.html?showall=1&limitstart=
Bài 1
Thân thể tại ngục trung,
Tinh thần tại ngục ngoại;
Dục thành đại sự nghiệp,
Tinh thần cánh yếu đại.
Thân thể ở trong ngục,
Tinh thần ở ngoài ngục;
Muốn lên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.
Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao;
Muốn lên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.
Nam Trân dịch
(Trong nguyên bản, bốn câu thơ này không có
đầu đề, chép ở ngoài bìa tập Ngục trung nhật ký cùng
hình vẽ hai tay bị xiềng, có lẽ được tác giả coi như
một lời đề từ cho toàn tập )
2
Bài 2
Khai quyển
Lão phu nguyên bất ái ngâm thi
Nhân vị tù trung vô sở vi
Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật
Thả ngâm thả đãi tự do thì
Mở đầu tập Nhật ký
Già này vốn không thích ngâm thơ,
Nhân vì trong ngục không có gì làm
Hãy mượn việc ngâm thơ cho qua ngày dài
Vừa ngâm vừa đợi ngày tự do
Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết là chi đây;
Ngày dài ngâm đợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Nam Trân dịch
3
Bài 3
Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu
Túc Vinh khước sử dư mông nhục
Cố ý trì diên ngã khứ trình
Gián điệp hiềm nghi không niết tạo
Bả nhân danh dự bạch hy sinh
Bị bắt giữ ở phố Túc Vinh
Phố tên Túc Vinh mà khiến ta mang nhục,
Cố ý làm chậm trễ hành trình của ta;
Bày đặt ra trò tình nghi gián điệp,
Không dưng làm mất danh dự của Người.
Túc Vinh mà để ta mang nhục,
Cố ý dằng dai, chậm bước mình;
Bịa chuyện tình nghi là gián điệp,
Cho người vô cớ mất thanh danh.
Huệ Chi dịch
Túc Vinh là tên một phố ở thị trấn huyện Thiên
Bảo, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; Tác giả bị chính
quyền Tưởng Giới Thạch bắt ngày 29/08/1942. Câu
4
đầu bài thơ còn ngụ ý chơi chữ, lấy “mông nhục”
(mang nhục) đối lại với “túc vinh” (đủ vinh), làm
tăng ý nghĩa mỉa mai hài hước việc bắt người vô lý
của nhà cầm quyền Tưởng Giới Thạch.
5
Bài 4
Nhập Tĩnh Tây huyện ngục
Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm
Thiên thượng tình vân trục vũ vân
Tình vũ phù vân phi khứ liễu
Ngục trung lưu trú tự do nhân
Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây
Trong ngục tù cũ đón tù mới
Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;
Mây tạnh, mây mưa, mấy đám mây nổi bay
đi hết,
Chỉ còn lại người tự do trong ngục.
Trong lao tù cũ đón tù mới,
Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;
Tạnh, mưa, mây nổi bay đi hết,
Còn lại trong tù khách tự do.
Nam Trân dịch
Tĩnh Tây là một huyện thuộc Quảng Tây, gần
biên giới Trung - Việt. Tác giả bị bắt ở huyện Thiên
Bảo cách Tĩnh Tây khá xa nhưng lại bị đưa ngược về
Tĩnh Tây giam giữ.
6
Bài 5 -6- 7
Thế lộ nan
I
Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham
Na tri bình lộ cánh nan kham
Cao sơn lộ hổ chung vô dạng
Bình lộ phùng nhân khước bị giam.
II
Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân
Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân
Vô nại phong ba bình địa khởi
Tống dư nhập ngụ tác gia tân
III
Trung thành ngã bản vô tâm cứu
Khước bị hiềm nghi tố Hán gian
Xử thế nguyên lai phi dị dị
Nhi kim xử thế cánh nan nan.
7
Đường đời hiểm trở
I
Đi khắp non cao và núi hiểm,
Nào ngờ đường phẳng lại khó qua;
Núi cao gặp hổ rút cục vẫn không việc gì,
Đường phẳng gặp người lại bị bắt!
II
Ta vốn là đại biểu dân Việt Nam,
Định đến Trung Hoa gặp nhân vật trọng
yếu;
Không dưng đất bằng nổi sóng gió,
Đưa ta vào làm “khách quý” trong tù!
III
Vốn trung thực thành thật, ta không có
điều gì thẹn với lòng
Thế mà bị tình nghi là Hán gian;
Việc xử thế vốn không phải là dễ,
Lúc này, xử thế càng khó khăn hơn.
8
I
Đi khắp đèo cao, khắp núi cao,
Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao!
Núi cao gặp hổ mà vô sự,
Đường phẳng gặp người bị tống lao?!
II
Ta là đại biểu dân Việt Nam,
Tìm đến Trung Hoa để hội đàm;
Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió,
Phải làm “khách quý” ở nhà giam!
III
Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng,
Lại bị tình nghi là Hán gian;
Xử thế từ xưa không phải dễ,
Mà nay, xử thế khó khăn hơn.
Nam Trân dịch
9
Bài 8 -9
Tảo
I
Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng
Chiếu trước lung môn môn vị khai
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám
Quang minh khước dĩ diện tiền lai.
II
Tảo khởi nhân nhân tranh liệp sắt
Bát chung hưởng liễu tảo xan khai
Khuyến quân thả ngật nhất cá bão
Bĩ cực chi thì tất thái lai.
Buổi sớm
I
Mỗi sớm, mặt trời vượt lên khỏi đầu tường,
Chiếu tới cửa nhà lao, cửa chưa mở;
Giờ đây trong lao còn đen tối,
Nhưng ánh sáng đã bừng lên phía trước
mặt.
10
II
Sớm dậy, mọi người đua nhau bắt rận,
Chuông điểm tám giờ, bữa cơm sáng bắt
đầu;
Khuyên anh hãy cứ ăn no,
Khổ đến tột cùng, vui ắt tới.
I
Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc,
Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài;
Trong ngục giờ đây còn tối mịt,
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.
II
Sớm dậy, người người đua bắt rận,
Tám giờ chuông điểm, bữa ban mai;
Khuyên anh hãy gắn ăn no bụng,
Bĩ cực rồi ra ắt thái lai.
Nam Trân dịch
(Còn nữa)
Kim Yến (st)
11
Bài 11
Vấn thoại
Xã hội đích lưỡng cực,
Pháp quan dữ phạm nhân;
Quan viết: Nhĩ hữu tội,
Phạm viết: Ngã lương dân;
Quan viết: Nhĩ thuyết giả,
Phạm viết: Ngã ngôn chân;
Pháp quan tính bản thiện,
Giả trang ác ngân ngân;
Yếu nhập nhân ư tội,
Khước giả ý ân cần;
Giá lưỡng cực chi gian,
Lập trước công lý thần.
Lời hỏi
Hai cực trong xã hội,
Quan toà và phạm nhân;
Quan rằng: Anh có tội,
Phạm thưa: Tôi lương dân;
Quan rằng: Anh nói dối,
12
Phạm thưa: Thực trăm phần;
Quan toà tính vốn thiện,
Vờ làm bộ dữ dằn;
Muốn khép người vào tội,
Lại ra vẻ ân cần;
Ở giữa hai cực đó,
Công lý đứng làm thần.
Hai cực trong xã hội,
Quan tòa và phạm nhân;
Quan rằng: Anh có tội,
Phạm nhân: Tôi lương dân;
Quan rằng: Anh nói dối,
Phạm nhân: Thực trăm phần;
Quan tòa tính vốn thiện,
Vờ làm bộ dữ dằn;
Muốn khép người vào tội,
Lại ra vẻ ân cần;
Ở giữa hai cực đó,
Công lý đứng làm thần.
Bản dịch của Huệ Chi - Nguyễn Sĩ Lâm
13
Bài 12
Ngọ Hậu
Nhị điểm khai lung hoán không khí,
Nhân nhân ngưỡng khán tự do thiên;
Tự do thiên thượng thần tiên khách,
Tri phủ lung trung dã hữu tiên?
Quá trưa
Hai giờ chiều, nhà lao mở cửa đổi không khí,
Mọi người ngẩng lên ngắm trời tự do;
Khách thần tiên trên trời tự do,
Biết chăng trong tù cũng có tiên?
Hai giờ ngục mở thông hơi,
Tù nhân ngẩng mặt ngắm trời tự do;
Tự do tiên khách trên trời,
Biết chăng trong ngục có người khách tiên?
Nam Trân dịch
14
Bản dịch khác
Hai giờ ngục mở thay không khí,
Ai nấy nhìn lên: Trời tự do!
Tiên khách tự do trên thượng giới,
Biết chăng, tiên cũng ở trong tù?
Vũ Huy Động dịch
15
Bài 13
Vãn
Vãn xan ngật liễu, nhật tây trầm,
Xứ xứ sơn ca, dữ nhạc âm;
U ám Tĩnh Tây cấm bế thất,
Hốt thành mỹ thuật tiểu hàn lâm.
Chiều hôm
Cơm chiều xong, mặt trời lặn về tây,
Khắp nơi, rộn tiến ca dân dã và tiếng nhạc;
Nhà ngục u ám huyện Tĩnh Tây,
Bỗng thành một viện hàn lâm nghệ thuật
nhỏ.
Cơm xong, bóng đã xuống trầm trầm,
Vang tiếng đàn ca, rộn tiếng ngâm;
Nhà ngục Tĩnh Tây mờ mịt tối,
Bỗng thành nhạc quán viện hàn lâm.
Nam Trân dịch
16
Bài 14
Tù lương
Mỗi xan nhất uyển hồng mễ phạn,
Vô diêm, vô thái, hựu vô thang;
Hữu nhân tống phạn, ngật đắc bão,
Một nhân tống phạn, hán gia lương.
Cơm tù
Mỗi bữa một bát cơm gạo đỏ,
Không muối, không rau cũng chẳng canh;
Có người đem cơm được ăn no,
Không người đem cơm, đói kêu cha kêu mẹ.
Không rau, không muối, canh không có,
Mỗi bữa lưng cơm đỏ gọi là;
Có kẻ đem cơm còn chắc dạ,
Không người lo bữa đói kêu cha.
Nam Trân – Bằng Thanh dịch
17
Bài 15
Nạn hữu xuy địch
Ngục trung hốt thính tư hương khúc,
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu;
Thiên lý quan hà vô hạn cảm,
Khuê nhân cánh thướng nhất tằng lâu.
Người bạn tù thổi sáo
Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hương,
Âm thanh trở nên thê lương, tình điệu trở lên
sầu muộn;
Nước non xa cách nghìn trùng, cảm thương
vô hạn,
Người chốn phòng khuê lại bước lên một tầng
lầu.
Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu;
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.
Nam Trân dịch
18
Bản dịch khác
Trong lao vẳng khúc nhạc tình quê,
Âm chuyển sầu thương, điệu tái tê;
Nghìn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó chốn phòng khuê.
Huệ Chi dịch
19
Bài 16-17
Cướp áp
I
Tranh ninh ngã khẩu tự hung thần,
Vãn vãn trương khai bả cước thôn;
Các nhân bị thôn liễu hữu cước,
Chỉ thặng tả cước năng khuất thân.
II
Thế gian gian cánh hữu ly kỳ sự,
Nhân mẫn tranh tiên thượng cước kiềm;
Nhân vị hữu kiềm tài đắc thụy,
Vô kiềm một xứ khả an miên.
Cái cùm
I
Miệng đói dữ tượn như một hung thần,
Đêm đêm há hốc nuốt chân người;
Người nào cũng bị nuốt chân phải,
Chỉ còn chân trái co duỗi được thôi.
20
II
Trên đời lại có chuyện thật là kỳ,
Mọi người tranh nhau đến trước để cùm
chân;
Vì có cùm chân mới được ngủ,
Không cùm chân thì không chỗ ngủ yên.
I
Dữ tựa hung thần miệng trực nhai,
Đêm đêm há hốc nuốt chân người;
Mọi người bị nuốt chân bên phải,
Co duỗi còn chân bên trái thôi
II
Nghĩ việc trên đời thật lạ kỳ,
Cùm chân sau trước cũng tranh nhau;
Được cùm chân mới yên bề ngủ,
Không được cùm chân biết ngủ đâu
Nam Trân dịch
21
Bài 18 – 19 – 20
Học dịch kỳ
I
Bế tọa vô liêu học dịch kỳ
Thiên binh vạn mã cộng khu trì;
Tấn công thoái thủ ưng thần tốc,
Cao tài tật túc tiên đắc chi.
II
Nhãn quang ưng đại tâm ưng tế
Kiên quyết thì thì yếu tấn công
Thác lộ, song xa dã một dụng
Phùng thời nhất tốt khả thành công?
III
Song phương thế lực thản bình quân
Thắng lợi chung tu thuộc nhất nhân;
Công thủ vận trù vô lậu toán,
Tài xưng anh dũng đại tướng quân.
22
Học đánh cờ
I
Ngồi trong giam cấm buồn tênh, học đánh
cờ,
Nghìn quân muôn ngựa cùng rong ruổi;
Tấn công, lui giữ đều phải thần tốc,
Tài cao, chân nhanh mới được nước trước.
II
Tầm nhìn phải rộng, suy nghĩ phải sâu
Phải kiên quyết, luôn luôn tấn công;
Lạc nước, hai xe cũng thành vô dụng,
Gặp thời một tốt có thể thành công.
III
Thế lực hai bên vốn ngang nhau,
Kết cục thắng lợi thuộc về một người;
Tính kế đánh hay, giữ không sơ hở,
Mới xứng là bậc đại tướng anh dũng.
23
I
Tù túng đem cờ học đánh chơi,
Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài;
Tấn công, thoái thủ nên thần tốc,
Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.
II
Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ,
Kiên quyết, không ngừng thế tấn công;
Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
Gặp thời, một tốt cũng thành công.
III
Vốn trước hai bên ngang thế lực,
Mà sau thắng lợi một bên giành;
Tấn công, phòng thủ không sơ hở,
Đại tướng anh hùng mới xứng danh.
Văn Trực – Văn Phụng dịch
24
Bài 21
Vọng nguyệt
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà ?
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
Ngắm trăng
Trong tù không rượu cũng không hoa,
Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?
Người hướng ra trước song ngắm ánh trăng
sáng,
Từ ngoài khe cửa trăng ngắm nhà thơ.
Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ.
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Nam Trân dịch
25
Bài 22
Phân Thủy
Mỗi nhân phân đắc thủy bán bồn,
Tẩy diện, phanh trà các tùy tiện;
Thùy yếu, tẩy diện, vật phanh trà,
Thùy yếu phanh trà, vật tẩy diện.
Chia nước
Mỗi người được chia nửa chậu nước,
Rửa mặt đun trà tùy ý mình;
Ai muốn rửa ,mặt đừng đun trà,
Ai muốn đun trà thôi rửa mặt.
Mỗi người phần nước vừa lưng chậu,
Rửa mặt đun trà tự ý ta;
Ai muốn đun trà đừng rửa mặt,
Ai cần rửa mặt chớ đun trà.
Nam Trân – Trần Đắc Thọ dịch
26
Bài 23-24
Trung Thu
I
Trung thu thu nguyệt viên như kính,
Chiếu diệu nhân gian bạch tự ngân;
Gia lý đoàn viên ngật thu tiết,
Bất vong ngục lý ngật sầu nhân.
II
Ngục trung nhân dẫn thưởng trùng thu,
Thu nguyệt, thu phong đới điểm sầu;
Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt,
Tâm tùy thu nguyệt cộng du du!
Trung Thu
I
Trăng Trung Thu tròn như gương,
Chiếu rọi cõi đời, ánh trăng trắng như bạc;
Nhà ai sum họp ăn tết Trung Thu,
Chẳng quyên người trong ngực nuốt sầu.
27
II
Người trong ngục cũng thưởng thức Trung
Thu,
Trăng thu, gió thu đều vương sầu;
Không được tự do ngắm trăng thu,
Lòng theo cùng trăng thu vời vợi.
I
Trung thu vành vạnh mảnh gương thu,
Sáng khắp nhân gian bạc một màu;
Sum họp nhà ai ăn tết đó,
Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu.
II
Trung thu ta cũng tết trong tù,
Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu;
Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt,
Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu.
Nam Trân dịch
Theo Hồ Chí Minh toàn tập
(Còn nữa)
Kim Yến (st)
28
Bài 34
Điền Đông
Mỗi xan nhất uyển công gia chúc,
Đỗ tử thì thì tại thán hu;
Bạch phạn tam nguyên bất câu bão,
Tân như quế dã mễ như châu.
Điền Đông 1
Mỗi bữa được một bát cháo của nhà nước,
Cái bụng luôn luôn than phiền;
Cơm không ba đồng chẳng đủ no,
Củi đắt như quế, gạo như châu.
Cháo tù mỗi bữa chia lưng bát,
Cái bụng luôn luôn rên rỉ sầu;
Cơm nhạt ba đồng ăn chẳng đủ,
Củi thì như quế, gạo như châu.
Nam Trân – Hoàng Trung Thông dịch
1. Điền Đông: Một địa điểm trên đường bộ từ Tĩnh Tây đi Nam
Ninh (ND).
29
Bài 35
Sơ đáo Thiên Bảo Ngục
Nhật hành ngũ thập tam công lý,
Thấp tận y quan, phá tận hài;
Triệt dạ hựu vô an thụy xứ,
Xí khanh thượng toạ đãi triêu lai.
Mới đến nhà lao Thiên Bảo1
Ngày đi năm mươi ba cây số,
Ướt hết mũ áo, rách hết giày;
Suốt đêm lại không có chỗ ngủ yên,
Ngồi trên hố xí đợi trời sáng.
Năm mươi ba dặm, một ngày trời,
Áo mũ ướt đầm, dép tả tơi;
Lại khổ thâu đêm không chốn ngủ,
Ngồi trên hố xí đợi ban mai.
1. Không hiểu sao bài thơ này lại xếp sau bài Điền Đông, có lẽ là
hồi ức về quãng đường đi từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo.
30
Bản dịch khác:
Ngày cuốc năm mươi ba cột số,
Ướt đầm mũ áo, rách bươm giày;
Thâu đêm lại chẳng nơi yên giấc,
Ngồi trấn cầu tiêu, đợi sáng ngày.
Khương Hữu Dụng – Nguyễn Sĩ Lâm dịch
Nạn hữu chi thê thám giam
Quân tại thiết song lý,
Thiếp tại thiết song tiền;
Tương cận tại chỉ xích,
Tương cách tự thiên uyên;
Khẩu bất năng thuyết đích,
Chỉ lại nhãn truyền nghiên (ngôn);
Vị ngôn lệ dĩ mãn, Tình cảnh chân khả liên!
Vợ người bạn tù
đến nhà lao thăm chồng
Chàng ở trong song sắt,
Thiếp ở ngoài song sắt;
Gần nhau chỉ tấc gang,
Mà cách nhau trời vực;
31
Miệng không thốt lên lời,
Chuyển lời nhờ khoé mắt;
Chưa nói nước mắt tràn,
Tình cảnh thật đáng thương!
Anh ở trong song sắt,
Em ở ngoài song sắt;
Gần nhau chỉ tấc gang,
Mà cách nhau trời vực;
Miệng nói chẳng nên lời,
Chỉ còn nhờ khoé mắt;
Chưa nói, lệ tuôn tràn,
Cảnh tình đáng thương thật!
Nam Trân – Hoàng Trung Thông dịch
32
Bài 36
Các báo: Hoan nghênh UY-KY đại hội
Đồng thị Trung Quốc hữu,
Đồng thị yếu phó Du;
Quân vi tọa thượng khách,
Ngã vi giai hạ tù;
Đồng thị đại biểu dã,
Đãi ngộ hồ huyền thù?
Nhân tình phân lãnh nhiệt,
Tự cổ thuỷ đông lưu!
Các báo đăng tin: Hội họp lớn
hoan nghênh UY-KY1
Cùng là bạn Trung Hoa,
Cùng phải đi Trùng Khánh2;
1. Uy Ki: Tức Wendell Willkie, đại biểu Mỹ trong phe Đồng minh
chống phát xít, đi thăm Trùng Khánh. Lúc ông đi qua Đệ tứ
chiến khu Quảng Tây, nhà đương cục tổ chức hội họp chiêu
đãi. Bấy giờ tác giả là đại biểu của Việt Nam Độc lập đồng
minh, cũng là đồng minh của Trung Quốc chống Nhật. Nhưng
giới cầm quyền ở Trùng Khánh lại bắt giam Người
2. Trùng Khánh: Còn có tên là Du, một phủ thuộc tỉnh Tứ Xuyên,
nơi Chính phủ Trung Hoa Dân quốc đóng thời chống Nhật.
33
Anh là khách ngồi trên,
Tôi là tù dưới thềm;
Cùng là đại biểu cả,
Đối đãi sao quá khác biệt?
Thói đời thường phân ấm lạnh,
Từ xưa nước vẫn chảy về đông!
Cũng là đi Trùng Khánh,
Cũng là bạn Trung Hoa;
Anh, làm khách trên sảnh,
Tôi, thân tù dưới nhà;
Cùng là đại biểu cả,
Khinh trọng sao khác xa?
Thói thường chia ấm lạnh,
Về đông nước chảy mà!
Nam Trân dịch
34
Bài 37
Tự miễn
Một hữu đông tàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
Tự khuyên mình
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
Nam Trân dịch
35
Bài 38
Dã cảnh
Ngã lai chi thì hoà thượng thanh,
Hiện tại thu thu bán di thành;
Xứ xứ nông dân nhan đới tiếu,
Điền gian sung mãn xướng ca thanh.
Cảnh đồng nội
Lúc ta đến lúa còn xanh,
Nay vụ gặt đã xong một nửa;
Nơi nơi nông dân mặt mày hớn hở,
Ruộng đồng tràn đầy tiếng ca hát.
Nam Trân dịch
Bản dịch khác:
Khi ta mới đến còn xanh lúa,
Vụ gặt bây giờ nửa đã xong;
Khắp chốn nông dân cười hớn hở,
Câu ca tiếng hát rộn trên đồng.
Nguyễn Sĩ Lâm dịch
36
Bài 39
Chúc than
Lộ bàng thụ ảnh lương âm hạ,
Nhất duyện mao lư thị “tửu lâu”;
Lãnh chúc, bạch diêm cung thực phổ,
Hành nhân quá thử tạm đình lưu.
Hàng Cháo
Dưới bóng cây râm mát bên đường,
Một túp lều tranh: Ấy là “tiệm rượu”;
Cháo nguội và muối trắng làm thành thực đơn,
Khách đi đường qua đây tạm dừng nghỉ.
Ven đường nấp dưới bóng lùm cây,
Một túp lều tranh: “tiệm rượu” đây;
Nào món cháo hoa và muối trắng,
Đường xa, khách tạm nghỉ nơi này.
Huệ Chi dịch
37
Bài 40
Quả Đức ngục
Giam phòng dã thị tiểu gia đình,
Sài, mễ, du, diêm tự kỷ doanh;
Mỗi cá lung tiền nhất cá táo,
Thành thiên chử phạn dữ điều canh.
Nhà lao Quả Đức
Phòng giam cũng là một gia đình nhỏ,
Gạo, củi, dầu, muối, đều tự mình lo sắm;
Trước mỗi phòng giam là một bếp,
Suốt ngày thổi cơm và nấu canh.
Nhà lao mà giống tiểu gia đình,
Gạo, củi, muối, dầu tự sắm sanh;
Trước mỗi phòng giam bày một bếp,
Suốt ngày lụi hụi với cơm, canh.
Huệ Chi dịch
38
Bài 41
Long An lưu sở trưởng
Biện sự nhận chân Lưu sở trưởng,
Nhân nhân tán tụng nhĩ công bình;
Văn tiền lạp mễ đô công bố,
Can tịnh tù lung hảo vệ sinh.
Sở trưởng Long An 1 họ Lưu
Sở trưởng họ Lưu giải quyết công việcthận
trọng, đúng đắn,
Mọi người đều khen ông công bằng;
Đồng tiền, hạt gạo đều công bố,
Nhà lao sạch sẽ hợp vệ sinh.
Làm việc đúng thay Lưu sở trưởng
Ai ai cũng bảo bác công bình;
Đồng tiền, bát gạo đều công bố,
Sạch sẽ, lao tù rất vệ sinh.
Nam Trân dịch
An: Một phủ thuộc tỉnh Quảng Tây, một địa điểm trên
1. Long
sông
Hữu Giang. Từ Quả Đức, tác giả bị giải chếch xuống phía
Nam và dọc theo sông Hữu Giang đến Nam Ninh.
39
Bài 42
TẢO GIẢI
I
Nhất thứ kê đề dạ vị lan,
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
II
Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,
U ám tàn dư nhất tảo không1);
Noãn khí bao la toàn vũ trụ,
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng!
GIẢI ĐI SỚM
I
Gà gáy một lần, đêm chưa tàn,
Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi
mùa thu;
Người đi xa đã cất bước trên đường xa,
Gió thu táp mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo.
40
II
Phương đông màu trắng chuyển thành
hồng,
Bóng đêm còn rơi rớt sớm đã hết sạch;
Hơi ấm bao la khắp vũ trụ,
Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.
I
Gà gáy một lần đêm chửa tan,
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;
Người đi cất bước trên đường thẳm,
Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.
II
Phương đông màu trắng chuyển sang
hồng
Bóng tối đêm tàn, sớm sạch không;
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.
Nam Trân dịch
41
Bài 43
ĐỒNG CHÍNH
(Thập nhất nguyệt nhị nhật)
Đồng Chính chính đồng Bình Mã ngục,
Mỗi xan nhất chúc đỗ không không;
Thuỷ hoà quang tuyến hẩn sung túc,
Nhật nhật hoàn khai lưỡng thứ lung.
ĐỒNG CHÍNH1
(Ngày 2 tháng 11)
Nhà lao Đồng Chính giống hệt nhà lao
Bình Mã2,
Mỗi bữa một bát cháo, bụng thường rỗng
không;
Nước và ánh sáng thì đầy đủ,
Mỗi ngày còn hai lần mở cửa buồng giam.
1. Đồng Chính : Một huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, một địa điểm
trên đường từ Long An đi Nam Ninh dọc theo sông Hữu Giang.
2. Bình Mã: Một trấn ở Tây bộ khu tự trị dân tộc Choang tỉnh
Quảng Tây, bên bờ sông Hữu Giang, là nơi đóng của Cách
mệnh uỷ viên hội Điền Đông. Nay là huyện lỵ Điền.
42
Bình Mã thế nào Đồng Chính vậy,
Bữa lưng bát cháo bụng cồn cào;
Nước và ánh sáng thì dư dật,
Ngày lại hai lần mở cửa lao.
Nam Trân dịch
43
Bài 44
NẠN HỮU ĐÍCH CHỈ BỊ
Cựu quyển, tân thư tương bổ xuyết,
Chỉ chiên do noãn quá vô chiên;
Ngọc sàng cẩm trướng nhân tri phủ,
Ngục lý hứa đa nhân bất miên?
CHIẾC CHĂN GIẤY
CỦA NGƯỜI BẠN TÙ
Quyển cũ, sách mới cùng bồi chắp lại,
Chăn giấy còn ấm hơn không có chăn;
Người trên giường ngọc trướng gấm có biết
chăng,
Trong ngục bao nhiêu người không ngủ?
Quyển xưa, sách mới bồi thêm ấm,
Chăn giấy còn hơn chẳng có chăn;
Trướng gấm, giường ngà, ai có biết?
Trong tù bao kẻ ngủ không an?
Nam Trân – Băng Thanh dịch
44
Bản dịch khác:
Sách xưa vở mới khéo đem bồi,
Chăn giấy hơn không đã hẳn rồi;
Giường ngọc màn thêu ai có thấu,
Trong lao không ngủ biết bao người.
Hoàng Ngân dịch
45
Bài 45
DẠ LÃNH
Thu thâm vô nhục diệc vô chiên,
Súc hình cung yêu bất khả miên;
Nguyệt chiếu đình tiêu tăng lãnh khí,
Khuy song Bắc Đẩu dĩ hoành thiên.
ĐÊM LẠNH
Đêm cuối thu không đệm cũng không chăn,
Nằm co cẳng cong lưng vẫn không ngủ
được;
Trăng soi khóm chuối trước sân càng tăng
thêm khí lạnh,
Nhòm qua cửa sổ, sao Bắc Đẩu đã ngang
trời.
Đêm thu không đệm cũng không chăn,
Gối quắp, lưng còng, ngủ chẳng an;
Khóm chuối trăng soi càng thấy lạnh,
Nhòm song, Bắc Đẩu đã nằm ngang.
Nam Trân dịch
46
Bản dịch khác:
Cuối thu chăn đệm cũng đều không,
Co quắp nằm mà ngủ chẳng xong;
Sân chuối trăng soi thêm lạnh lẽo,
Ngang trời, Bắc Đẩu hiện ngoài song.
Trần Đắc Thọ dịch
47
Bài
TRONG TÙ
Nguồn: Hồ Chí Minh – Viết bằng chữ Hán năm 1942 – 1943
Bản dịch của Viện Văn học In trong sách Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù
1
http://www.bqllang.gov.vn/chu-tich-ho-chi-minh/tac-pham/1194-nh-t-ky-trong-tuh-chi-minh-vi-t-b-ng-ch-han-nam-1942-1943.html?showall=1&limitstart=
Bài 1
Thân thể tại ngục trung,
Tinh thần tại ngục ngoại;
Dục thành đại sự nghiệp,
Tinh thần cánh yếu đại.
Thân thể ở trong ngục,
Tinh thần ở ngoài ngục;
Muốn lên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.
Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao;
Muốn lên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.
Nam Trân dịch
(Trong nguyên bản, bốn câu thơ này không có
đầu đề, chép ở ngoài bìa tập Ngục trung nhật ký cùng
hình vẽ hai tay bị xiềng, có lẽ được tác giả coi như
một lời đề từ cho toàn tập )
2
Bài 2
Khai quyển
Lão phu nguyên bất ái ngâm thi
Nhân vị tù trung vô sở vi
Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật
Thả ngâm thả đãi tự do thì
Mở đầu tập Nhật ký
Già này vốn không thích ngâm thơ,
Nhân vì trong ngục không có gì làm
Hãy mượn việc ngâm thơ cho qua ngày dài
Vừa ngâm vừa đợi ngày tự do
Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết là chi đây;
Ngày dài ngâm đợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Nam Trân dịch
3
Bài 3
Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu
Túc Vinh khước sử dư mông nhục
Cố ý trì diên ngã khứ trình
Gián điệp hiềm nghi không niết tạo
Bả nhân danh dự bạch hy sinh
Bị bắt giữ ở phố Túc Vinh
Phố tên Túc Vinh mà khiến ta mang nhục,
Cố ý làm chậm trễ hành trình của ta;
Bày đặt ra trò tình nghi gián điệp,
Không dưng làm mất danh dự của Người.
Túc Vinh mà để ta mang nhục,
Cố ý dằng dai, chậm bước mình;
Bịa chuyện tình nghi là gián điệp,
Cho người vô cớ mất thanh danh.
Huệ Chi dịch
Túc Vinh là tên một phố ở thị trấn huyện Thiên
Bảo, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; Tác giả bị chính
quyền Tưởng Giới Thạch bắt ngày 29/08/1942. Câu
4
đầu bài thơ còn ngụ ý chơi chữ, lấy “mông nhục”
(mang nhục) đối lại với “túc vinh” (đủ vinh), làm
tăng ý nghĩa mỉa mai hài hước việc bắt người vô lý
của nhà cầm quyền Tưởng Giới Thạch.
5
Bài 4
Nhập Tĩnh Tây huyện ngục
Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm
Thiên thượng tình vân trục vũ vân
Tình vũ phù vân phi khứ liễu
Ngục trung lưu trú tự do nhân
Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây
Trong ngục tù cũ đón tù mới
Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;
Mây tạnh, mây mưa, mấy đám mây nổi bay
đi hết,
Chỉ còn lại người tự do trong ngục.
Trong lao tù cũ đón tù mới,
Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;
Tạnh, mưa, mây nổi bay đi hết,
Còn lại trong tù khách tự do.
Nam Trân dịch
Tĩnh Tây là một huyện thuộc Quảng Tây, gần
biên giới Trung - Việt. Tác giả bị bắt ở huyện Thiên
Bảo cách Tĩnh Tây khá xa nhưng lại bị đưa ngược về
Tĩnh Tây giam giữ.
6
Bài 5 -6- 7
Thế lộ nan
I
Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham
Na tri bình lộ cánh nan kham
Cao sơn lộ hổ chung vô dạng
Bình lộ phùng nhân khước bị giam.
II
Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân
Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân
Vô nại phong ba bình địa khởi
Tống dư nhập ngụ tác gia tân
III
Trung thành ngã bản vô tâm cứu
Khước bị hiềm nghi tố Hán gian
Xử thế nguyên lai phi dị dị
Nhi kim xử thế cánh nan nan.
7
Đường đời hiểm trở
I
Đi khắp non cao và núi hiểm,
Nào ngờ đường phẳng lại khó qua;
Núi cao gặp hổ rút cục vẫn không việc gì,
Đường phẳng gặp người lại bị bắt!
II
Ta vốn là đại biểu dân Việt Nam,
Định đến Trung Hoa gặp nhân vật trọng
yếu;
Không dưng đất bằng nổi sóng gió,
Đưa ta vào làm “khách quý” trong tù!
III
Vốn trung thực thành thật, ta không có
điều gì thẹn với lòng
Thế mà bị tình nghi là Hán gian;
Việc xử thế vốn không phải là dễ,
Lúc này, xử thế càng khó khăn hơn.
8
I
Đi khắp đèo cao, khắp núi cao,
Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao!
Núi cao gặp hổ mà vô sự,
Đường phẳng gặp người bị tống lao?!
II
Ta là đại biểu dân Việt Nam,
Tìm đến Trung Hoa để hội đàm;
Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió,
Phải làm “khách quý” ở nhà giam!
III
Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng,
Lại bị tình nghi là Hán gian;
Xử thế từ xưa không phải dễ,
Mà nay, xử thế khó khăn hơn.
Nam Trân dịch
9
Bài 8 -9
Tảo
I
Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng
Chiếu trước lung môn môn vị khai
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám
Quang minh khước dĩ diện tiền lai.
II
Tảo khởi nhân nhân tranh liệp sắt
Bát chung hưởng liễu tảo xan khai
Khuyến quân thả ngật nhất cá bão
Bĩ cực chi thì tất thái lai.
Buổi sớm
I
Mỗi sớm, mặt trời vượt lên khỏi đầu tường,
Chiếu tới cửa nhà lao, cửa chưa mở;
Giờ đây trong lao còn đen tối,
Nhưng ánh sáng đã bừng lên phía trước
mặt.
10
II
Sớm dậy, mọi người đua nhau bắt rận,
Chuông điểm tám giờ, bữa cơm sáng bắt
đầu;
Khuyên anh hãy cứ ăn no,
Khổ đến tột cùng, vui ắt tới.
I
Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc,
Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài;
Trong ngục giờ đây còn tối mịt,
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.
II
Sớm dậy, người người đua bắt rận,
Tám giờ chuông điểm, bữa ban mai;
Khuyên anh hãy gắn ăn no bụng,
Bĩ cực rồi ra ắt thái lai.
Nam Trân dịch
(Còn nữa)
Kim Yến (st)
11
Bài 11
Vấn thoại
Xã hội đích lưỡng cực,
Pháp quan dữ phạm nhân;
Quan viết: Nhĩ hữu tội,
Phạm viết: Ngã lương dân;
Quan viết: Nhĩ thuyết giả,
Phạm viết: Ngã ngôn chân;
Pháp quan tính bản thiện,
Giả trang ác ngân ngân;
Yếu nhập nhân ư tội,
Khước giả ý ân cần;
Giá lưỡng cực chi gian,
Lập trước công lý thần.
Lời hỏi
Hai cực trong xã hội,
Quan toà và phạm nhân;
Quan rằng: Anh có tội,
Phạm thưa: Tôi lương dân;
Quan rằng: Anh nói dối,
12
Phạm thưa: Thực trăm phần;
Quan toà tính vốn thiện,
Vờ làm bộ dữ dằn;
Muốn khép người vào tội,
Lại ra vẻ ân cần;
Ở giữa hai cực đó,
Công lý đứng làm thần.
Hai cực trong xã hội,
Quan tòa và phạm nhân;
Quan rằng: Anh có tội,
Phạm nhân: Tôi lương dân;
Quan rằng: Anh nói dối,
Phạm nhân: Thực trăm phần;
Quan tòa tính vốn thiện,
Vờ làm bộ dữ dằn;
Muốn khép người vào tội,
Lại ra vẻ ân cần;
Ở giữa hai cực đó,
Công lý đứng làm thần.
Bản dịch của Huệ Chi - Nguyễn Sĩ Lâm
13
Bài 12
Ngọ Hậu
Nhị điểm khai lung hoán không khí,
Nhân nhân ngưỡng khán tự do thiên;
Tự do thiên thượng thần tiên khách,
Tri phủ lung trung dã hữu tiên?
Quá trưa
Hai giờ chiều, nhà lao mở cửa đổi không khí,
Mọi người ngẩng lên ngắm trời tự do;
Khách thần tiên trên trời tự do,
Biết chăng trong tù cũng có tiên?
Hai giờ ngục mở thông hơi,
Tù nhân ngẩng mặt ngắm trời tự do;
Tự do tiên khách trên trời,
Biết chăng trong ngục có người khách tiên?
Nam Trân dịch
14
Bản dịch khác
Hai giờ ngục mở thay không khí,
Ai nấy nhìn lên: Trời tự do!
Tiên khách tự do trên thượng giới,
Biết chăng, tiên cũng ở trong tù?
Vũ Huy Động dịch
15
Bài 13
Vãn
Vãn xan ngật liễu, nhật tây trầm,
Xứ xứ sơn ca, dữ nhạc âm;
U ám Tĩnh Tây cấm bế thất,
Hốt thành mỹ thuật tiểu hàn lâm.
Chiều hôm
Cơm chiều xong, mặt trời lặn về tây,
Khắp nơi, rộn tiến ca dân dã và tiếng nhạc;
Nhà ngục u ám huyện Tĩnh Tây,
Bỗng thành một viện hàn lâm nghệ thuật
nhỏ.
Cơm xong, bóng đã xuống trầm trầm,
Vang tiếng đàn ca, rộn tiếng ngâm;
Nhà ngục Tĩnh Tây mờ mịt tối,
Bỗng thành nhạc quán viện hàn lâm.
Nam Trân dịch
16
Bài 14
Tù lương
Mỗi xan nhất uyển hồng mễ phạn,
Vô diêm, vô thái, hựu vô thang;
Hữu nhân tống phạn, ngật đắc bão,
Một nhân tống phạn, hán gia lương.
Cơm tù
Mỗi bữa một bát cơm gạo đỏ,
Không muối, không rau cũng chẳng canh;
Có người đem cơm được ăn no,
Không người đem cơm, đói kêu cha kêu mẹ.
Không rau, không muối, canh không có,
Mỗi bữa lưng cơm đỏ gọi là;
Có kẻ đem cơm còn chắc dạ,
Không người lo bữa đói kêu cha.
Nam Trân – Bằng Thanh dịch
17
Bài 15
Nạn hữu xuy địch
Ngục trung hốt thính tư hương khúc,
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu;
Thiên lý quan hà vô hạn cảm,
Khuê nhân cánh thướng nhất tằng lâu.
Người bạn tù thổi sáo
Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hương,
Âm thanh trở nên thê lương, tình điệu trở lên
sầu muộn;
Nước non xa cách nghìn trùng, cảm thương
vô hạn,
Người chốn phòng khuê lại bước lên một tầng
lầu.
Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu;
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.
Nam Trân dịch
18
Bản dịch khác
Trong lao vẳng khúc nhạc tình quê,
Âm chuyển sầu thương, điệu tái tê;
Nghìn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó chốn phòng khuê.
Huệ Chi dịch
19
Bài 16-17
Cướp áp
I
Tranh ninh ngã khẩu tự hung thần,
Vãn vãn trương khai bả cước thôn;
Các nhân bị thôn liễu hữu cước,
Chỉ thặng tả cước năng khuất thân.
II
Thế gian gian cánh hữu ly kỳ sự,
Nhân mẫn tranh tiên thượng cước kiềm;
Nhân vị hữu kiềm tài đắc thụy,
Vô kiềm một xứ khả an miên.
Cái cùm
I
Miệng đói dữ tượn như một hung thần,
Đêm đêm há hốc nuốt chân người;
Người nào cũng bị nuốt chân phải,
Chỉ còn chân trái co duỗi được thôi.
20
II
Trên đời lại có chuyện thật là kỳ,
Mọi người tranh nhau đến trước để cùm
chân;
Vì có cùm chân mới được ngủ,
Không cùm chân thì không chỗ ngủ yên.
I
Dữ tựa hung thần miệng trực nhai,
Đêm đêm há hốc nuốt chân người;
Mọi người bị nuốt chân bên phải,
Co duỗi còn chân bên trái thôi
II
Nghĩ việc trên đời thật lạ kỳ,
Cùm chân sau trước cũng tranh nhau;
Được cùm chân mới yên bề ngủ,
Không được cùm chân biết ngủ đâu
Nam Trân dịch
21
Bài 18 – 19 – 20
Học dịch kỳ
I
Bế tọa vô liêu học dịch kỳ
Thiên binh vạn mã cộng khu trì;
Tấn công thoái thủ ưng thần tốc,
Cao tài tật túc tiên đắc chi.
II
Nhãn quang ưng đại tâm ưng tế
Kiên quyết thì thì yếu tấn công
Thác lộ, song xa dã một dụng
Phùng thời nhất tốt khả thành công?
III
Song phương thế lực thản bình quân
Thắng lợi chung tu thuộc nhất nhân;
Công thủ vận trù vô lậu toán,
Tài xưng anh dũng đại tướng quân.
22
Học đánh cờ
I
Ngồi trong giam cấm buồn tênh, học đánh
cờ,
Nghìn quân muôn ngựa cùng rong ruổi;
Tấn công, lui giữ đều phải thần tốc,
Tài cao, chân nhanh mới được nước trước.
II
Tầm nhìn phải rộng, suy nghĩ phải sâu
Phải kiên quyết, luôn luôn tấn công;
Lạc nước, hai xe cũng thành vô dụng,
Gặp thời một tốt có thể thành công.
III
Thế lực hai bên vốn ngang nhau,
Kết cục thắng lợi thuộc về một người;
Tính kế đánh hay, giữ không sơ hở,
Mới xứng là bậc đại tướng anh dũng.
23
I
Tù túng đem cờ học đánh chơi,
Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài;
Tấn công, thoái thủ nên thần tốc,
Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.
II
Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ,
Kiên quyết, không ngừng thế tấn công;
Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
Gặp thời, một tốt cũng thành công.
III
Vốn trước hai bên ngang thế lực,
Mà sau thắng lợi một bên giành;
Tấn công, phòng thủ không sơ hở,
Đại tướng anh hùng mới xứng danh.
Văn Trực – Văn Phụng dịch
24
Bài 21
Vọng nguyệt
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà ?
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
Ngắm trăng
Trong tù không rượu cũng không hoa,
Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?
Người hướng ra trước song ngắm ánh trăng
sáng,
Từ ngoài khe cửa trăng ngắm nhà thơ.
Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ.
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Nam Trân dịch
25
Bài 22
Phân Thủy
Mỗi nhân phân đắc thủy bán bồn,
Tẩy diện, phanh trà các tùy tiện;
Thùy yếu, tẩy diện, vật phanh trà,
Thùy yếu phanh trà, vật tẩy diện.
Chia nước
Mỗi người được chia nửa chậu nước,
Rửa mặt đun trà tùy ý mình;
Ai muốn rửa ,mặt đừng đun trà,
Ai muốn đun trà thôi rửa mặt.
Mỗi người phần nước vừa lưng chậu,
Rửa mặt đun trà tự ý ta;
Ai muốn đun trà đừng rửa mặt,
Ai cần rửa mặt chớ đun trà.
Nam Trân – Trần Đắc Thọ dịch
26
Bài 23-24
Trung Thu
I
Trung thu thu nguyệt viên như kính,
Chiếu diệu nhân gian bạch tự ngân;
Gia lý đoàn viên ngật thu tiết,
Bất vong ngục lý ngật sầu nhân.
II
Ngục trung nhân dẫn thưởng trùng thu,
Thu nguyệt, thu phong đới điểm sầu;
Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt,
Tâm tùy thu nguyệt cộng du du!
Trung Thu
I
Trăng Trung Thu tròn như gương,
Chiếu rọi cõi đời, ánh trăng trắng như bạc;
Nhà ai sum họp ăn tết Trung Thu,
Chẳng quyên người trong ngực nuốt sầu.
27
II
Người trong ngục cũng thưởng thức Trung
Thu,
Trăng thu, gió thu đều vương sầu;
Không được tự do ngắm trăng thu,
Lòng theo cùng trăng thu vời vợi.
I
Trung thu vành vạnh mảnh gương thu,
Sáng khắp nhân gian bạc một màu;
Sum họp nhà ai ăn tết đó,
Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu.
II
Trung thu ta cũng tết trong tù,
Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu;
Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt,
Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu.
Nam Trân dịch
Theo Hồ Chí Minh toàn tập
(Còn nữa)
Kim Yến (st)
28
Bài 34
Điền Đông
Mỗi xan nhất uyển công gia chúc,
Đỗ tử thì thì tại thán hu;
Bạch phạn tam nguyên bất câu bão,
Tân như quế dã mễ như châu.
Điền Đông 1
Mỗi bữa được một bát cháo của nhà nước,
Cái bụng luôn luôn than phiền;
Cơm không ba đồng chẳng đủ no,
Củi đắt như quế, gạo như châu.
Cháo tù mỗi bữa chia lưng bát,
Cái bụng luôn luôn rên rỉ sầu;
Cơm nhạt ba đồng ăn chẳng đủ,
Củi thì như quế, gạo như châu.
Nam Trân – Hoàng Trung Thông dịch
1. Điền Đông: Một địa điểm trên đường bộ từ Tĩnh Tây đi Nam
Ninh (ND).
29
Bài 35
Sơ đáo Thiên Bảo Ngục
Nhật hành ngũ thập tam công lý,
Thấp tận y quan, phá tận hài;
Triệt dạ hựu vô an thụy xứ,
Xí khanh thượng toạ đãi triêu lai.
Mới đến nhà lao Thiên Bảo1
Ngày đi năm mươi ba cây số,
Ướt hết mũ áo, rách hết giày;
Suốt đêm lại không có chỗ ngủ yên,
Ngồi trên hố xí đợi trời sáng.
Năm mươi ba dặm, một ngày trời,
Áo mũ ướt đầm, dép tả tơi;
Lại khổ thâu đêm không chốn ngủ,
Ngồi trên hố xí đợi ban mai.
1. Không hiểu sao bài thơ này lại xếp sau bài Điền Đông, có lẽ là
hồi ức về quãng đường đi từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo.
30
Bản dịch khác:
Ngày cuốc năm mươi ba cột số,
Ướt đầm mũ áo, rách bươm giày;
Thâu đêm lại chẳng nơi yên giấc,
Ngồi trấn cầu tiêu, đợi sáng ngày.
Khương Hữu Dụng – Nguyễn Sĩ Lâm dịch
Nạn hữu chi thê thám giam
Quân tại thiết song lý,
Thiếp tại thiết song tiền;
Tương cận tại chỉ xích,
Tương cách tự thiên uyên;
Khẩu bất năng thuyết đích,
Chỉ lại nhãn truyền nghiên (ngôn);
Vị ngôn lệ dĩ mãn, Tình cảnh chân khả liên!
Vợ người bạn tù
đến nhà lao thăm chồng
Chàng ở trong song sắt,
Thiếp ở ngoài song sắt;
Gần nhau chỉ tấc gang,
Mà cách nhau trời vực;
31
Miệng không thốt lên lời,
Chuyển lời nhờ khoé mắt;
Chưa nói nước mắt tràn,
Tình cảnh thật đáng thương!
Anh ở trong song sắt,
Em ở ngoài song sắt;
Gần nhau chỉ tấc gang,
Mà cách nhau trời vực;
Miệng nói chẳng nên lời,
Chỉ còn nhờ khoé mắt;
Chưa nói, lệ tuôn tràn,
Cảnh tình đáng thương thật!
Nam Trân – Hoàng Trung Thông dịch
32
Bài 36
Các báo: Hoan nghênh UY-KY đại hội
Đồng thị Trung Quốc hữu,
Đồng thị yếu phó Du;
Quân vi tọa thượng khách,
Ngã vi giai hạ tù;
Đồng thị đại biểu dã,
Đãi ngộ hồ huyền thù?
Nhân tình phân lãnh nhiệt,
Tự cổ thuỷ đông lưu!
Các báo đăng tin: Hội họp lớn
hoan nghênh UY-KY1
Cùng là bạn Trung Hoa,
Cùng phải đi Trùng Khánh2;
1. Uy Ki: Tức Wendell Willkie, đại biểu Mỹ trong phe Đồng minh
chống phát xít, đi thăm Trùng Khánh. Lúc ông đi qua Đệ tứ
chiến khu Quảng Tây, nhà đương cục tổ chức hội họp chiêu
đãi. Bấy giờ tác giả là đại biểu của Việt Nam Độc lập đồng
minh, cũng là đồng minh của Trung Quốc chống Nhật. Nhưng
giới cầm quyền ở Trùng Khánh lại bắt giam Người
2. Trùng Khánh: Còn có tên là Du, một phủ thuộc tỉnh Tứ Xuyên,
nơi Chính phủ Trung Hoa Dân quốc đóng thời chống Nhật.
33
Anh là khách ngồi trên,
Tôi là tù dưới thềm;
Cùng là đại biểu cả,
Đối đãi sao quá khác biệt?
Thói đời thường phân ấm lạnh,
Từ xưa nước vẫn chảy về đông!
Cũng là đi Trùng Khánh,
Cũng là bạn Trung Hoa;
Anh, làm khách trên sảnh,
Tôi, thân tù dưới nhà;
Cùng là đại biểu cả,
Khinh trọng sao khác xa?
Thói thường chia ấm lạnh,
Về đông nước chảy mà!
Nam Trân dịch
34
Bài 37
Tự miễn
Một hữu đông tàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
Tự khuyên mình
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
Nam Trân dịch
35
Bài 38
Dã cảnh
Ngã lai chi thì hoà thượng thanh,
Hiện tại thu thu bán di thành;
Xứ xứ nông dân nhan đới tiếu,
Điền gian sung mãn xướng ca thanh.
Cảnh đồng nội
Lúc ta đến lúa còn xanh,
Nay vụ gặt đã xong một nửa;
Nơi nơi nông dân mặt mày hớn hở,
Ruộng đồng tràn đầy tiếng ca hát.
Nam Trân dịch
Bản dịch khác:
Khi ta mới đến còn xanh lúa,
Vụ gặt bây giờ nửa đã xong;
Khắp chốn nông dân cười hớn hở,
Câu ca tiếng hát rộn trên đồng.
Nguyễn Sĩ Lâm dịch
36
Bài 39
Chúc than
Lộ bàng thụ ảnh lương âm hạ,
Nhất duyện mao lư thị “tửu lâu”;
Lãnh chúc, bạch diêm cung thực phổ,
Hành nhân quá thử tạm đình lưu.
Hàng Cháo
Dưới bóng cây râm mát bên đường,
Một túp lều tranh: Ấy là “tiệm rượu”;
Cháo nguội và muối trắng làm thành thực đơn,
Khách đi đường qua đây tạm dừng nghỉ.
Ven đường nấp dưới bóng lùm cây,
Một túp lều tranh: “tiệm rượu” đây;
Nào món cháo hoa và muối trắng,
Đường xa, khách tạm nghỉ nơi này.
Huệ Chi dịch
37
Bài 40
Quả Đức ngục
Giam phòng dã thị tiểu gia đình,
Sài, mễ, du, diêm tự kỷ doanh;
Mỗi cá lung tiền nhất cá táo,
Thành thiên chử phạn dữ điều canh.
Nhà lao Quả Đức
Phòng giam cũng là một gia đình nhỏ,
Gạo, củi, dầu, muối, đều tự mình lo sắm;
Trước mỗi phòng giam là một bếp,
Suốt ngày thổi cơm và nấu canh.
Nhà lao mà giống tiểu gia đình,
Gạo, củi, muối, dầu tự sắm sanh;
Trước mỗi phòng giam bày một bếp,
Suốt ngày lụi hụi với cơm, canh.
Huệ Chi dịch
38
Bài 41
Long An lưu sở trưởng
Biện sự nhận chân Lưu sở trưởng,
Nhân nhân tán tụng nhĩ công bình;
Văn tiền lạp mễ đô công bố,
Can tịnh tù lung hảo vệ sinh.
Sở trưởng Long An 1 họ Lưu
Sở trưởng họ Lưu giải quyết công việcthận
trọng, đúng đắn,
Mọi người đều khen ông công bằng;
Đồng tiền, hạt gạo đều công bố,
Nhà lao sạch sẽ hợp vệ sinh.
Làm việc đúng thay Lưu sở trưởng
Ai ai cũng bảo bác công bình;
Đồng tiền, bát gạo đều công bố,
Sạch sẽ, lao tù rất vệ sinh.
Nam Trân dịch
An: Một phủ thuộc tỉnh Quảng Tây, một địa điểm trên
1. Long
sông
Hữu Giang. Từ Quả Đức, tác giả bị giải chếch xuống phía
Nam và dọc theo sông Hữu Giang đến Nam Ninh.
39
Bài 42
TẢO GIẢI
I
Nhất thứ kê đề dạ vị lan,
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
II
Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,
U ám tàn dư nhất tảo không1);
Noãn khí bao la toàn vũ trụ,
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng!
GIẢI ĐI SỚM
I
Gà gáy một lần, đêm chưa tàn,
Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi
mùa thu;
Người đi xa đã cất bước trên đường xa,
Gió thu táp mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo.
40
II
Phương đông màu trắng chuyển thành
hồng,
Bóng đêm còn rơi rớt sớm đã hết sạch;
Hơi ấm bao la khắp vũ trụ,
Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.
I
Gà gáy một lần đêm chửa tan,
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;
Người đi cất bước trên đường thẳm,
Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.
II
Phương đông màu trắng chuyển sang
hồng
Bóng tối đêm tàn, sớm sạch không;
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.
Nam Trân dịch
41
Bài 43
ĐỒNG CHÍNH
(Thập nhất nguyệt nhị nhật)
Đồng Chính chính đồng Bình Mã ngục,
Mỗi xan nhất chúc đỗ không không;
Thuỷ hoà quang tuyến hẩn sung túc,
Nhật nhật hoàn khai lưỡng thứ lung.
ĐỒNG CHÍNH1
(Ngày 2 tháng 11)
Nhà lao Đồng Chính giống hệt nhà lao
Bình Mã2,
Mỗi bữa một bát cháo, bụng thường rỗng
không;
Nước và ánh sáng thì đầy đủ,
Mỗi ngày còn hai lần mở cửa buồng giam.
1. Đồng Chính : Một huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, một địa điểm
trên đường từ Long An đi Nam Ninh dọc theo sông Hữu Giang.
2. Bình Mã: Một trấn ở Tây bộ khu tự trị dân tộc Choang tỉnh
Quảng Tây, bên bờ sông Hữu Giang, là nơi đóng của Cách
mệnh uỷ viên hội Điền Đông. Nay là huyện lỵ Điền.
42
Bình Mã thế nào Đồng Chính vậy,
Bữa lưng bát cháo bụng cồn cào;
Nước và ánh sáng thì dư dật,
Ngày lại hai lần mở cửa lao.
Nam Trân dịch
43
Bài 44
NẠN HỮU ĐÍCH CHỈ BỊ
Cựu quyển, tân thư tương bổ xuyết,
Chỉ chiên do noãn quá vô chiên;
Ngọc sàng cẩm trướng nhân tri phủ,
Ngục lý hứa đa nhân bất miên?
CHIẾC CHĂN GIẤY
CỦA NGƯỜI BẠN TÙ
Quyển cũ, sách mới cùng bồi chắp lại,
Chăn giấy còn ấm hơn không có chăn;
Người trên giường ngọc trướng gấm có biết
chăng,
Trong ngục bao nhiêu người không ngủ?
Quyển xưa, sách mới bồi thêm ấm,
Chăn giấy còn hơn chẳng có chăn;
Trướng gấm, giường ngà, ai có biết?
Trong tù bao kẻ ngủ không an?
Nam Trân – Băng Thanh dịch
44
Bản dịch khác:
Sách xưa vở mới khéo đem bồi,
Chăn giấy hơn không đã hẳn rồi;
Giường ngọc màn thêu ai có thấu,
Trong lao không ngủ biết bao người.
Hoàng Ngân dịch
45
Bài 45
DẠ LÃNH
Thu thâm vô nhục diệc vô chiên,
Súc hình cung yêu bất khả miên;
Nguyệt chiếu đình tiêu tăng lãnh khí,
Khuy song Bắc Đẩu dĩ hoành thiên.
ĐÊM LẠNH
Đêm cuối thu không đệm cũng không chăn,
Nằm co cẳng cong lưng vẫn không ngủ
được;
Trăng soi khóm chuối trước sân càng tăng
thêm khí lạnh,
Nhòm qua cửa sổ, sao Bắc Đẩu đã ngang
trời.
Đêm thu không đệm cũng không chăn,
Gối quắp, lưng còng, ngủ chẳng an;
Khóm chuối trăng soi càng thấy lạnh,
Nhòm song, Bắc Đẩu đã nằm ngang.
Nam Trân dịch
46
Bản dịch khác:
Cuối thu chăn đệm cũng đều không,
Co quắp nằm mà ngủ chẳng xong;
Sân chuối trăng soi thêm lạnh lẽo,
Ngang trời, Bắc Đẩu hiện ngoài song.
Trần Đắc Thọ dịch
47
Bài
 






Các ý kiến mới nhất