Tài nguyên thông tin thư viện

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Giới thiệu sách hay lên đọc

Bác Hồ

Giáo dục kỹ năng sống

Menu chức năng 11

Menu chức năng 12

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • 💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG CÁC BẠN GHÉ THĂM WEBSITE THƯ VIÊN TRƯỜNG THCS ĐẠO ĐỨC 💕💕

    Bac si tot nhat la chinh minh Tap 6

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Xuân
    Ngày gửi: 15h:40' 10-12-2025
    Dung lượng: 5.5 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    B Ó C .51
    rni
    chính

    Bệĩỉll

    Bóc sĩ
    tốt nhât

    là chính mình
    Tập 6: Bệnh Gout

    BIỂU GHI BIÊN M ưc TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC h iệ n B à THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
    General Sciences Library Cataloging-in-Publicaưon Data
    Bác sĩ lốt nhát là chính mình. T.6, Bệnh Gout / Lé Quang lổng hỢp. - Tái bản lan thứ 5.
    ■TP. H ỉ Chí Minh: T rí. 2013.
    104 tr .: 20 cm. - (Y hix - Sức khỏe).
    I. Bệnh Gout. 2. Khớp - Bệnh - Điều trị. 3. Bệnh loãng xiiHng. I. Lê Quang. II. Ts: Bệnh
    Goul.
    I. Gom. 2. loints -- Discases -- Trcalment. .3. Osteoporosis.
    61(13 9« - d c 22
    B1I6

    ISSN978

    -

    604 - 1- 00904-2

    Bác sĩ t6t nhắt chinh minh 6

    934974

    114970

    Y HỌC^SỨC KHỎE
    Nhiều tác giả

    Bác sĩ
    tốt nhât
    là chính mình
    Tập 6: Bệnh Gout
    (Tái bản lần thứ 5)

    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    LỜI KHUYÊN
    DÀNH CHO MỌI NGƯỜI

    Trân trọng sức khỏe!
    Tận hưởng sức khỏe!
    Sáng tạo sức khỏe!
    Nếu bạn còn trẻ, và mong muốn dược sống vui vẻ và khỏe
    mạnh, hãy đọc quyển sách này!
    Nếu bạn đã già, và mong muốn sống khỏe sống lâu, hãy
    đọc quyển sách này!
    Nếu bạn nghèo khó, không đủ sức mua thuốc men giá dắt,
    hãy đọc quyển sách này!
    Nếu bạn giàu có, nhưng lại kém sức khỏe và kém vui, hãy
    dọc quyển sách này!
    Chỉ cần trích 4 giờ ít ỏi đọc kỹ quyển sách này, nó sẽ mang
    lại 36.000 ngày thu hoạch quí giá cho cả cuộc đời bạn!

    PHẦN A; BỆNH GOUT

    GOUT LÀ GÌ?
    Bạn bị đánh thức đột ngột vào nửa đêm, nguyên nhân là
    ngón chân cái như bị lửa dốt. Nó nóng rát, sưng phồng, đau
    đớn và cảm giác nặng nề không thể chịu đựng nổi. Trường
    hỢp này có lẽ bạn đang bị cơn Gout cấp tính (viêm khớp do
    Gout) - một dạng viêm khớp đặc trưng bởi các cơn đau nặng
    nề, đột ngột, khớp sưng đỏ.
    Gout là một bệnh lý có lẽ được biết đến lâu đời nhất của
    loài người - đã hơn 2000 năm nay. Ngày xơa nó được xem như
    là “bệnh của vua chúa” vì thường xuất hiện ở những người
    giàu sang với những đồ ăn thức uống của người giàu. Ngày nay
    người ta biết rõ rằng đây là một rôd loạn phức tạp ảnh hưởng
    lên mọi người không chỉ riêng ở người giàu. Tại Việt Nam,
    hiện có đến hàng triệu người đang phải khổ sở vì bệnh này.
    Nam giới thường mắc bệnh này nhiều hơn phụ nữ. Bệnh
    Gout ở nữ thường xảy ra sau mán kinh. Đây là một bệnh chữa
    trị đưỢc và có nhiều cách để phòng ngừa tái phát.

    Dấu hiệu và triệu chứng
    Đau do Gout hầu hết là cấp tính, xảy ra một cách đột ngột,
    thường vào ban đêm, không có triệu chứng báo trước, gồm:
    Đau khớp dữ dội: Gout thường ảnh hưởng những khớp lớn
    trên ngón chân cái, nhưng cũng có thể ở khớp bàn chân, mắt
    cá chân, gối, bàn tay, cổ tay,... Cơn đau điển hình có thể kéo
    dài 5-10 ngày rồi ngưng. Khó chịu sẽ giảm dần dần sau 1-2
    tuần, các khớp có vẻ không có gì bất thường.
    Viêm đỏ: Các khớp bị sưng đỏ và đau.
    Nguyên nhân
    Bệnh này do nồng độ acid uric trong máu tăng quá cao.
    Acid uric là một sản phẩm phụ tạo ra do sự thoái giáng của
    purine. chất này có thể tìm thấy trong tự nhiên từ một sô" loại
    thực phẩm - tạng động vật như gan, óc, thận, lách và cá như
    cá trồng (thuộc họ cá trích), cá trích, cá thu. Purine cũng có
    trong tâ"t cả các loại thịt, cá và gia cầm.
    Thông thường thì acid uric bị phân hủy trong máu và đưỢc
    thải theo nước tiểu ra ngoài qua thận. Nhưng đôi khi cơ thể
    bạn tạo ra quá nhiều acid iưic hoặc thải acid này ra nước tiểu
    quá ít. Hậu quả là acid uric trong máu tăng lên, tích lũy dần
    dần và lắng đọng thành những tinh thể sắc nhọn hình kim
    tại các khớp hoặc các bao quanh khớp gây ra triệu chứng đau
    đớn, viêm sưng khớp.
    Một sô" tình trạng khác, gọi là giả Gout, cũng có tình trạng
    lắng đọng tinh thể ở khớp nhưng không phải tinh thể acid uric

    mà là tinh thể calcium pyrophosphate dihydrate. Bệnh giả
    Gout cũng có thể gây đau khớp ngón chần cái tương tự Gout
    nhưng thường thì ở các khớp lớn hơn như gối, cổ tay hoặc mắt
    cá chân.
    Yêu tô nguy cơ
    Những yếu tô' hay hoàn cảnh sau có thể làm tăng acid uric
    trong máu cũng như tăng nguy cơ bệnh Gout:
    Lôì sông: Thường nhất là uô'ng nhiều rượu (alcohol), đặc
    biệt là bia. Uô'ng nhiều nghĩa là hơn hai cô'c ở nam và một cô'c
    ở nữ mỗi ngày. Nếu thể trọng tăng cao hơn cân nặng lý tưởng
    15kg cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh Gout.
    Một sô'bệnh lý và thuôc: Một sô'bệnh lý và thuô'c điều trị
    cũng có thể làm bạn tăng nguy cơ bị Gout. Các bệnh như tăng
    huyết áp, đái tháo đường, mỡ trong máu cao, hẹp lòng động
    mạch (do xơ vữa động mạch), phẫu thuật, các bệnh lý và tổn
    thương nặng, đột ngột, ít vận động,... một sô' thuôc như lợi tiểu
    thiazide (một loại thuôc điều trị tăng huyết áp bằng cách làm
    giảm lượng muối và nước trong cơ thể), aspirin liều thấp và
    cyclosporine (một loại thuốc sử dụng để chông thải ghép cho
    những người đưỢc ghép mô) cũng làm tăng acid uric máu. Hóa
    trị liệu trong một sô' bệnh như ung thư làm hủy diệt tế bào và
    phóng thích một lượng lớn purine vào máu.
    Gene di truyền: Một phần tư sô'bệnh nhân bị Gout có tiền
    sử gia đình bệnh này.
    Tuổi và giới: Nam giới có tần suất bệnh cao hơn nữ. Phụ
    nữ có nồng độ acid uric máu thường thấp hơn nam, nhưng

    đến tuổi sau mãn kinh lại tăng lên. Nam thường bị Gout trong
    khoảng 30-50 tuổi, còn nữ từ 50-70.
    Biến chứng
    Một số bệnh nhân bị Gout tiến triển đến viêm khớp mãn
    tính, thường có sự thay đổi màu do lắng đọng các tinh thể dưới
    da gọi là sạn urate (tophi). Một số ít có thể bị sỏi thận.
    Điều trị
    Thuôc kháng viêm không steroid (NSAIDs) dùng để giảm
    đau, kháng viêm trong các cơn Gout cấp tính, gồm các thuôc
    như: indomethacin (Indocin) hoặc các thuô"c bán tự do ở nhà
    thuốc như Ibuprofen (Advil, Motrin,...). Bác sĩ cũng có thể kê
    toa các thuôc kháng viêm steroid như prednisone.
    Tuy nhiên hây cẩn thận với các thuốc này và tham vấn ý
    kiến bác sĩ của bạn cụ thể cách dùng và thời gian dùng (thường
    chỉ nên dùng từ 3-10 ngày), vì nếu điều trị kéo dài chúng có
    thể gây các biến chứng như viêm loét và xuất huyết dạ dày,
    tá tràng.
    Trường hỢp bạn bị cơn Gout cấp, bác sĩ có thể cho bạn dùng
    colchicine hoặc chích cortisone thẳng vào khớp, đồng thời
    dùng các biện pháp diều trị ngăn ngừa nhằm hạ lượng acid
    uric trong máu của bạn.
    Phòng ngừa
    Hiện chưa có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa sự khởi
    phát và tái phát của các cơn Gout. Bác sĩ có thể cho dùng một
    10

    sô' thuô'c giúp ngăn ngừa hoặc làm giảm thiểu độ nặng của
    các cơn tái phát sau này. Các thuôc này gồm có Allopurinol
    (Zyloprim, Aloprim) và probenecid (Benemid), dùng hàng
    ngày giúp giảm nồng độ và tô'c độ sản xuất acid uric. Việc
    duy trì nồng độ acid uric ổn định ở giới hạn bình thường là
    cách ngăn ngừa bệnh Gout lâu dài và hiệu quả nhất.
    Tự chăm sóc bản thân
    Thay đổi lô'i sô'ng không thể điều trị bệnh Gout, nhưng rất
    hữu ích để hỗ trỢ điều trị. Các biện pháp sau giúp giảm bệnh:
    Giảm béo: Duy ữì cân nặng hỢp lý bằng cách giảm cân từ từ
    giúp giảm nồng độ acid uric máu, đồng thời giảm bớt sự chịu
    đựng sức nặng của các khớp. Tuy nhiên không nên nhịn đói để
    giảm cân nhanh vì như vậy lại càng làm tàng acid uric máu.
    Tránh ăn quá nhiều đạm động vật: Đây là nguồn chứa
    nhiều purine. Các thực phẩm chứa nhiều purine như tạng
    động vật (gan, thận, óc, lách), cá trồng, cá ưích, cá thu,... Các
    loại thịt, cá, gia cầm chứa ít purine hơn.
    Giới hạn hoặc tránh rượu: uống quá nhiều rưỢu làm giảm
    bài tiết acid uric. Giới hạn dưới hai cô'c mỗi ngày nếu là nam,
    môt cô'c nếu là nữ. Người bị Gout, tô't nhất nên tránh hoàn
    toàn rưỢu bia.
    Ăn uống nhiều nước, chất lỏng. Dịch làm pha loãng nồng
    độ acid uric trong máu.
    Bs Phạm Xuân Hậu

    11

    LỊCH SỬ BỆNH GOUT
    Gout đưỢc biết đến từ thời Hippocrates vào thế kỷ thứ V
    trước Công nguyên, nhưng mãi đến năm 1683, Sydenham mới
    mô tả đầy đủ diễn biến lâm sàng của cơn Gout cấp. Sau nhiều
    nghiên cứu của các nhà khoa học như c. w. Scheele, w. H,
    VVollaston, cuối thế kỷ XIX, Aíred Garrod mới tìm thấy vai trò
    của acid uric trong nguyên nhân gây bệnh, do đó bệnh Gout
    còn đưỢc gọi là viêm khớp do acid uric.
    Vào những năm 1960, các nhà khoa học đã nghiên cứu
    sâu hơn về sinh học tế bào, cơ chế sinh lý bệnh của tình trạng
    tăng acid uric máu và bệnh Gout, vai trò quan trọng của tinh
    thể urate, tìm ra các nhóm thuôh điều trị bệnh dựa vào nguyên
    nhân và cơ chế sinh bệnh cụ thể, do vậy hiệu quả điều trị đã
    tăng rõ rệt: Kiểm soát tôd cơn Gout cấp, ngăn ngừa các cơn
    viêm khớp tái phát, hạn chế biến chứng sỏi thận và các bệnh
    lý về thận. Đặc biệt từ khi phát hiện ra tác dụng đặc biệt của
    colchicine đôd với cơn Gout cấp thì việc điều trị đã thu được
    kết quả nhanh chóng và vấn đề chẩn đoán dựa trên lâm sàng
    đã trở nên đơn giản.
    Tham khảo bài viết của BS Nguyễn Thu Giang

    12

    GOUT - BỆNH CỦ A
    Q UÝ ÔNG "TỐT TƯỚNG'
    Đây là căn bệnh thiên vị đặc biệt: dường như hoàn toàn tha
    cho quý bà mà chỉ thăm viếng quý ông. Tuy nhiên, các quý bà
    lại là người đầu tiên nên biết về chứng bệnh nguy hiểm này
    để phòng ngừa từ trong bếp cho chồng mình.
    Gout, dân gian thường gọi là bệnh Gút hay thống phong, là
    bệnh được biết và mô tả từ thời Hy Lạp cổ. Ngay từ thế kỉ V
    trước Công nguyên, Hyppocrates đã mô tả một biểu hiện rất
    đặc trưng của bệnh sưng tấy, nóng, đỗ và rất đau ở ngón chân
    cái, ông còn gọi bệnh Gout là “Vua của các bệnh” và “Bệnh
    của các vua”.
    Bệnh Gout thường chỉ xuất hiện ở nam giới tuổi trung niên.
    Nguyên nhân gây bệnh là tình trạng thừa acid uric (trên lmg/1
    cc máu) do cơ thể đưỢc cung cấp quá nhiều chất đạm. LưỢng
    acid uric sẽ kết lại thành các tinh thể đóng ở các khớp, gây đau.
    Tuy nhiên không phải cứ có acid iưic cao là bị bệnh Gout.
    Nếu chỉ có acid uric máu cao đơn thuần, chỉ đưỢc gọi là tình
    trạng tăng acid uric máu không triệu chứng. Bệnh Gout chỉ xảy
    ra khi tình trạng tăng acid uric máu gây hậu quả xấu cho cơ thể.

    13

    Những ai dễ bị Gout?
    Theo thô"ng kê, tỷ lệ mắc bệnh là 0,3% dân số" người lớn,
    nghĩa là cứ 330 người lớn thì có một người mắc bệnh Gout.
    Bệnh thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp,
    dân gian thường gọi là “tô't tướng”. Phụ nữ rất ít bị bệnh Gout,
    nếu bị thường là nhóm tuổi trên 50.
    Thường nhất là bắt đầu vào cuôì tuổi 30 và đầu 40 của cuộc
    đời, với những người có cuộc sống vật chất sung túc, dư thừa
    dinh dưỡng.
    Vì hai đặc điểm này mà các vị giám đôh trẻ, hay những
    người đàn ông thành đạt nói chung nên lưu tâm hơn về căn
    bệnh này.
    Gout là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa, bệnh nhân
    Gout thường thừa cân, hay mắc thêm một hoặc nhiều bệnh
    như: xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa mỡ, tiểu đường,
    rô”! loạn lipid máu, cao huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh mạch
    não... Nói cách khác, các bệnh nhân bị các bệnh nói trên rất
    dễ bị Gout.
    Làm sao biết mình bị Gout?
    Bệnh khởi phát cấp tính, thường vào nửa đêm gần sáng, với
    tính chất sưng tây, nóng, đỏ mọng, đau dữ dội và đột ngột ở
    một khớp (không đô"i xứng). Thường gặp nhất ở ngón chân cái,
    kế đó là khớp bàn chân, khớp cổ chân, các ngón chân khác,
    khớp gối, bàn tay, các khớp tay và các vùng gần khớp khác.

    14

    Có thể kèm một sô" triệu chứng toàn thân như sô"t cao, ớn
    lạnh, lạnh run... Thậm chí, một sô" trường hỢp gây nhức đầu,
    ói mửa, cổ gượng (do phản ứng màng não).
    Hiện tượng viêm cầ"p tuy râ"t rầm rộ nhưng cũng chỉ kéo
    dài 5-10 ngày, rồi khỏi toàn thân, không để lại di chứng gì tại
    khớp. Nếu đưỢc dùng thuôc sớm, đúng thuôc, đúng liều lượng
    bệnh sẽ hết rất nhanh (dưới 5 ngày).
    Bệnh tái phát từng đợt với xu hướng ngày càng nhiều đợt
    viêm hơn, các đợt viêm khớp ngày càng dài ra, càng lâu khỏi
    hơn, càng có nhiều khớp bị viêm hơn...
    Gout nguy hiểm đến mức nào?
    Hậu quả trước mắt là các đợt viêm khớp Gout cấp - nỗi kinh
    hoàng cho những ai bị Gout, tuy nhiên ở giai đoạn đầu các đợt
    viêm này thường không kéo dài, không thường xuyên và rất
    dễ chữa. Nếu bệnh không đưỢc điều trị đúng và đủ, các đợt
    viêm khớp sẽ xuất hiện thường xuyên hơn, kéo dài hơn, khó
    chữa hơn và hậu quả lâu dài, cô" định của bệnh sẽ là viêm
    đa khớp, xuất hiện nhiều u cục quanh khớp, cứng khớp, biến
    dạng khớp, tàn phê", sỏi hệ tiết niệu đặc biệt là sỏi thận, nguy
    hiểm hơn cả là suy chức năng thận; đây là nguyên nhân chính
    làm giảm tuổi thọ của người bị bệnh Gout.
    Với những hiểu biết hiện nay về Gout, với những phương
    tiện và thuôc men hiện có, bệnh Gout đưỢc coi là bệnh dễ
    chẩn đoán, có thể chẩn đoán sớm và có thể điều trị đạt kết
    quả cao. Tuy nhiên trên thực tê" ở nước ta, mọi việc hầu như

    15

    bị đảo ngưỢc và lý do cơ bản là sự thiếu hụt kiến thức về một
    bệnh lý thường gặp. Sự thiếu hụt kiến thức này không chỉ ở
    cộng đồng, ở người bệnh mà còn ở cả nhiều thầy thuốc hay
    chẩn đoán nhầm là nhiễm trùng và cho uôhg thuôh kháng sinh
    hoặc chẩn đoán chung chung vô nghĩa là thấp khớp, viêm đa
    khớp. Chính sự thiếu hụt kiến thức này dã biến một bệnh dễ
    chẩn đoán, dễ chữa thành bệnh nan y! Và khi đã thành nan y
    thì nguy cơ tử vong là rất gần trong nhiều trường hỢp.
    Bệnh Gout có dễ chữa hay không?
    Hiện đã có thuôc chữa bệnh Gout nhưng chỉ có tác dụng
    ở giai đoạn sớm. Thường chỉ nửa ngày sau khi nông thuôc,
    các triệu chứng bệnh sẽ rút hết. Nhưng nếu bệnh nhân không
    kiêng cữ đúng mức, bệnh sẽ tái phát. Điều đó có nghĩa là, hiện
    nay chưa có thuôh nào điều trị được tận gốc căn bệnh.
    Bệnh nhân Gout có thể dùng thuôh Colchicine để chô"ng
    viêm và Allopurinol để làm giảm nồng độ acid uric ữong máu
    (theo chỉ định của bác sĩ). Tuy nhiên, điều quan trọng nhất
    vẫn là dự phòng bằng cách thực hiện chế độ dinh dưỡng hỢp
    lý, tránh ăn thức ăn giàu đạm và uống nhiều rưỢu bia.

    16

    C Á C THỂ BỆNH GOUT
    Gout có 2 thể bệnh là Gout nguyên phát và Gout thứ phát.
    1. Gout nguyên phát có tính chất di truyền, liên quan đến
    rôd loạn gene và mang tính gia đình rõ rệt. Đây là nguyên nhân
    chủ yếu của bệnh.
    2. Gout thứ phát - là tình trạng tăng acid uric thứ phát do
    các nguyên nhân khác nhau như:
    - Tăng phân hủy purine đường ngoại sinh do ăn nhiều thức
    ăn có nhiều purine (thịt, phủ tạng động vật, cá, hải sản).
    - Tăng thoái hóa purine theo đường nội sinh do các tế
    bào trong cơ thể bị phá hủy, gặp trong các bệnh máu ác
    tính (leukemia, lymphoma), đa hồng cầu, tán huyết, hóa trị
    liệu trong điều trị ung thư, hoặc sau khi dùng một số thuôc
    như salicylates liều thấp (dưới 2g/ngày), lợi tiểu, ethanol,
    pyrazinamide, ethambutol, nicotinamide, cyclosporine.
    - Giảm thải acid uric qua thận trong các bệnh lý thận như
    viêm cầu thận mạn, suy thận mạn.
    Bác sĩ Nguyễn Thu Giang

    17

    TOP 10 NGUYỀN NHÂN G Â Y
    BỆNH GOUT
    Bệnh Gout ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại. Đâu
    là những nguyên nhân gây nên căn bệnh này?
    1. Gia đình có tiền sử người bị Gout thì bạn rất có nguy cơ bị
    bệnh.
    2. Nam giới có nguy cơ bị bệnh Gout nhiều hơn nữ giới.
    3. Uô"ng quá nhiều những thức uông có cồn.
    4. Những người có vấn đề về cân nặng, càng béo phì thì khả
    năng mắc bệnh càng cao.
    5. Dùng thực phẩm chế biến sẵn làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
    6. Những người phải cấy ghép các cơ quan trên cơ thể có nguy
    cơ bị Gout nhiều hơn những người bình thường.
    7. Cơ thể bị nhiễm quá nhiều chì tăng nguy cơ nhiễm Gout.
    8. Cơ thể tự sản sinh ra lượng acid uric vượt mức.
    9. Một vài loại thuốc làm tăng nguy cơ bị Gout như thuốc lợi
    tiểu, thuốc chữa bệnh Parkinson, thuôc aspirin.
    10. Uô"ng vitamin có chứa niacin làm tăng nguy cơ mắc Gout.
    Theo enzinearticles

    18

    GOUT ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ RA SAO?
    - Việc ngăn ngừa những cơn Gout cấp cũng quan trọng như
    việc điều trị viêm khớp câ'p. Việc ngăn ngừa Gout cấp liên
    quan với việc duy trì đủ dịch nhập, giảm cân, thay đổi chế độ
    ăn, giảm nông rượu và dùng thuô'c giảm acid uric.
    - Duy trì việc nhập nước đầy đủ cũng giúp ngăn ngừa những
    cơn Gout cấp. Cung cấp dịch đầy đủ cũng giúp ngăn ngừa sự
    hình thành sỏi thận trong những bệnh nhân Gout. RưỢu có tính
    lợi tiểu làm cho bệnh nhân mất nước mà điều này góp phần
    tạo ra cơn Gout cấp. RưỢu cũng ảnh hưởng đến chuyển hóa
    acid uric và gây tăng acid uric. Những thay đổi trong chế độ
    ăn giúp làm giảm acid uric trong máu. Vì purine bị biến đổi
    thành uric nên tránh những thức ăn có purine. Những thức
    ăn có nhiều purine bao gồm những loại giáp xác (tôm, cua...},
    gan, óc, thận động vật và bánh mì ngọt.
    - Giảm cân có thể giúp ích trong việc giảm những đợt Gout
    tái phát. Cách tôd nhất cho việc này là giảm chế độ ăn mỡ
    và thu nạp năng lượng kết hỢp với chương trình tập thể dục
    đều đặn.
    - Có 3 loại thuôc điều trị Gout. Đầu tiên, thuôc giảm đau
    như acetaminophen (paracetamol) hoặc những thuốc giảm đau
    mạnh hơn đưỢc dùng. Thứ hai, thuốc kháng viêm như NSAIDS,

    19

    colchicine và corticosteroids được dùng để giảm viêm. Cuôd
    cùng, thuôc làm phá vỡ sự chuyển hóa gây tăng acid uric. Điều
    này có nghĩa là điều trị sao cho giảm acid uric trong máu.
    - NSAIDS như indom ethacin (Indocin) và naproxen
    (Naprosyn) là thuốc kháng viêm có hiệu quả trong Gout cấp.
    Những thuôc này đưỢc giảm liều sau khi giải quyết viêm khớp.
    Tác dụng phụ bao gồm khó chịu bao tử, loét và cả xuất huyết
    đường tiêu hóa. Những bệnh nhân có tiền sử dị ứng với aspirin
    hoặc polyp mũi nên ưánh dùng thuôc NSAIDS vì sẽ có nguy
    cơ phản ứng phản vệ.
    - Colchicine được dùng trong bệnh Gout, thường bằng dường
    uô"ng nhưng cũng có thể theo đường tĩnh mạch. Thuôc uô"ng
    dùng cho mỗi một hoặc hai giờ cho đến khi cải thiện được
    triệu chứng hoặc bệnh nhân có tác dụng phụ như tiêu chảy
    nặng. Những tác dụng phụ thường thấy khác của colchicine
    là buồn nôn và ói.
    - Corticosteroids như prednisone là thuốc kháng viêm mạnh
    được dùng trong thời gian ngắn đối với bệnh Gout. Có thể cho
    trực tiếp bằng đường uô"ng hoặc chích vào khớp viêm. Cũng
    có thể dùng cho những bệnh nhân có vấn đề về thận, gan hay
    đường tiêu hóa. Không nên sử dụng corticosteroids lầu dài vì
    nó gây ra tác dụng phụ trầm trọng.
    - Cùng với thuôc điều trị những cơn Gout cấp thì những
    thuôc khác đưỢc dùng trong một thời kỳ dài đ ể giảm mức acid
    uric. Hạ thấp mức acid uric trong máu là giảm nguy cơ Gout
    tái phát, sỏi thận, bệnh thận cũng như giải quyết sự lắng đọng

    20

    thành tophi. Thuốc làm thấp acid uric trong máu bằng cách
    hoặc làm tăng bài tiết nó qua thận hoặc làm giảm tạo thành
    acid uric từ purine trong thức ăn. Vì một sô" bệnh nhân có acid
    uric trong máu tăng nhưng không phát triển những cơn Gout
    hoặc sỏi thận, vì thế có điều trị kéo dài với thuôc hạ thấp acid
    uric hay không phải tùy theo từng bệnh nhân cụ thể.
    - Probenecid (Benemid) và sulfinpyrazone (Anturane) là
    thuôc thường đưỢc dùng để giảm acid uric bằng cách tăng thải
    acid uric qua thận. Trong một sô" trường hỢp hiếm thì thuốc
    này có thể gầy sỏi thận vì thế những bệnh nhân có tiền sử bị
    sỏi thận nên tránh dùng. Khi uô"ng thuôc này nên uô"ng thêm
    nhiều nước nhằm giúp thoát nhanh acid uric ra khỏi đường
    niệu, tránh hình thành sỏi.
    - Allopurinol (Zyloprim) hạ thấp acid uric trong máu bằng
    cách ngăn hình thành acid uric. Nó ngăn chặn việc biến đổi
    purine trong thức ăn thành acid uric. Những thuôc này nên
    cẩn thận khi dùng cho những bệnh nhân có chức năng thận
    kém cũng như có nguy cơ phát triển phản ứng phụ như mẩn
    đỏ và tổn thương gan.
    - Những thuôc hạ thấp acid uric như allopurinol (Zyloprim)
    tránh dùng cho những bệnh nhân đang có cơn Gout cấp (trừ
    khi họ đang dùng nó rồi). Vì người ta chưa biết tại sao khi dùng
    thuôc này trong cơn cấp thì làm tình trạng viêm khớp trở nên
    tệ hơn. Tuy nhiên, những thuô"c làm hạ acid uric trong máu
    thường dùng lúc tình trạng viêm khớp cấp đã đưỢc giải quyết.
    Còn nếu bệnh nhân đang dùng thuôc này rồi thì họ nên đưỢc
    duy trì ở liều đang dùng trong suô"t thời gian có cơn Gout cấp.
    21

    Trong một sô" bệnh nhân tăng liều thuôc hạ thâ"p acid uric có
    thể thúc đẩy cơn Gout cấp. ở một sô" bệnh nhân giảm liều
    colchicine có thể ngăn ngừa đưỢc cơn Gout cấp.
    - Những cách làm tại nhà giúp giảm triệu chứng của cơn
    Gout cấp bao gồm nghỉ ngơi, nâng cao chi có khớp bị viêm.
    Chườm đá có thể giúp giảm đau và giảm viêm. Bệnh nhân
    nên tránh dùng những thuôc có chứa aspirin vì chúng ngăn
    ngừa bài tiết acid uric.

    22

    C Á C BỆNH LÝ ĐI KÈM VỚI GOUT
    Béo phì:
    Có sự liên quan giữa trọng lượng cđ thể và nồng độ acid uxic
    máu. Tỉ lệ bệnh Gout tăng rõ rệt ở những người có trọng lượng
    cơ thể tăng ữên 10%. Béo phì làm tăng tổng hỢp acid uric máu
    và làm giảm thải acid uric niệu, kết hỢp của cả hai nguyên
    nhân gây tăng acid uric máu. Theo các thô"ng kê gần đây, 50%
    bệnh nhân Gout có dư cân trên 20% trọng lượng cơ thể.
    Tăng lipid máu:
    Sự kết hỢp giữa tăng TG (triglycerides) trong máu và tăng
    acid uric máu đã được xác định chắc chắn. Có đến 80% người
    tăng TG trong máu có sự phôd hỢp của tăng acid uric máu, và
    khoảng 50% - 70% bệnh nhân Gout có kèm tăng TG trong máu.
    ở bệnh nhân Gout, ngoài sự rối loạn của thành phần TG,
    người ta còn nhận thây có sự rôd loạn của HDL, một loại
    lipoprotein có lợi, có tính bảo vệ đôd với cơ thể.
    Sự liên quan giữa Gout và rôd loạn lipid máu chính là một
    phần của hội chứng chuyển hóa bao gồm tăng BMI (Body Mass
    Index), béo phì vùng bụng, tăng TG, giảm HDL, tăng huyết áp,
    tiểu đường, tình trạng đề kháng insulin và nguy cơ bị bệnh
    23

    mạch vành. Tăng acid uric máu kết hỢp với béo phì vùng bụng
    là nhóm nguy cơ cao của bệnh tim mạch có liên quan đến sự
    đề kháng insulin.
    Tăng huyết áp:
    Tăng acid uric máu đưỢc phát hiện ở 22 - 38% bệnh nhân
    tăng huyết áp không được điều trị. Tỉ lệ bệnh Gout trong dân
    sô" tăng huyết áp là 2 -12%. Mặc dù tỉ lệ tăng acid uric máu
    tăng ở đôi tượng tăng huyết áp nhưng không có sự liên quan
    giữa acid uric máu và trị số huyết áp. Có 25 - 50% bệnh nhân
    Gout có kèm tăng huyết áp, chủ yếu ở các bệnh nhân béo phì.
    Nguyên nhân gây nên môi liên hệ giữa bệnh Gout và tăng
    huyết áp hiện nay chưa đưỢc biết rõ.
    Xơ vữa động mạch:
    Các nghiên cứu gần đây đã chỉ rõ môi liên quan giữa Gout
    và xơ vữa động mạch. Tuy vậy tăng acid uric máu không phải
    là yếu tố nguy cơ trực tiếp của bệnh mạch vành. Tăng huyết
    áp, tiểu đường, xơ vữa động mạch liên quan nhiều đến tình
    trạng béo phì hơn là liên quan đến sự tăng acid uric máu. ớ
    bệnh nhân Gout, các yếu tô" nguy cơ của bệnh mạch vành như
    tăng huyết áp, béo phì, đề kháng insulin, tăng TG trong máu
    góp phần làm tăng sự liên quan giữa acid uric máu và xơ vữa
    động mạch. Các yếu tô" nguy cơ này tự nó làm tăng nguy cơ
    của bệnh tim mạch, và như vậy, acid uric máu chỉ gián tiếp
    làm tăng nguy cơ đột tử do bệnh tim mạch thông qua việc kết
    hỢp với các bệnh lý có nguy cơ cao nói trên.
    Bác sĩ Nguyễn Thu Giang

    24

    DINH DƯỠNG TRONG
    PHÒNG CHỐNG BỆNH GOUT
    Gout (Goute) là một bệnh rối loợn chuyển hóa có
    liên quan đến ăn uống do nồng độ acid uric quá cao
    trong huyết tưdng, dàn đến lổng đọng cá c tình thể urate
    (muối của acìd uric) hoặc tinh thể acid uric. Nếu láng đọng
    ở khớp (sụn khớp, bao hoqt dịch) sẽ làm khớp bị viêm, gây
    đau đớn, lâu dồn gây biến dọng, cứng khớp. Nếu lắng
    đọng ở thận sẽ gây bệnh thận do urate (viêm thận kẽ,
    sỏi thận...). Bệnh thường gặp ở nam giới trên 40 tuổi,
    có những đợt kịch phát, tái phát nhiều làn.

    Các biểu hiện của bệnh Gout:
    - Viêm khớp cấp tính: Sưng và đau nhức khớp, nhất là khớp
    đôì bàn và ngón chân cái.
    - Lắng đọng sạn urate: Thây những cục hay hạt urate nổi
    dưới da, di động được dưới vành tai, mỏm khuỷu, xương bánh
    chè hoặc gần gân gót.
    - Sỏi urate, acid uric trong hệ thông thận - tiết niệu.
    - Viêm thận kẽ, suy thận.
    25

    ■Xét nghiệm máu thấy acid uric tăng cao ữên 400 micromol/
    lít.
    Những người có nhiều nguy cơ bị tăng acid uric máu
    và mắc bệnh Gout:
    - Có tiền sử gia đình bị bệnh Gout.
    - Thừa cân và béo phì.
    - Ăn uô'ng không hỢp lý, ăn quá nhiều thực phẩm chứa
    nhiều nhân piưine.
    - Nghiện rưỢu, nghiện cà phê.
    - Dùng nhiều thuôh lợi tiểu như hypothiazid, lasix... có thể
    làm tăng acid mic và gây ra các đợt Gout cấp tính.
    Chế độ ăn uô"ng trong phòng chống bệnh Gout:
    Cần nhận thức rằng ăn uô'ng không hỢp lý là một yếu tô'
    thúc đẩy xuất hiện bệnh và tái phát bệnh. Nhiều bệnh nhân
    xuất hiện đợt siừig đau khớp dữ dội đến mức không đi lại đưỢc
    sau khi ăn nhiều hải sản, thịt chó, thịt thú rừng hay dạ dày,
    lòng lợn, tiết canh. Vì vậy c
     
    Gửi ý kiến